Showing posts with label Chính trị. Show all posts

Một bài báo trên tờ Người Đưa Tin viết về bốn lãnh đạo trẻ tuổi ở Việt Nam, cho dù ngay sau đó đã bị rút xuống nhưng vẫn được lan truyền với tốc độ kinh hoàng trên mạng. Suy nghĩ chung của rất nhiều người là mỉa mai và không phục với cương vị mà họ đang đảm nhận. Vì với nhiều người, 4 vị lãnh đạo trẻ nói trên đều có điểm chung là con của những lãnh đạo cao cấp hiện nay. 3 người là con Ủy viên Bộ Chính trị và chỉ có một người duy nhất là Ủy viên Trung ương đảng nhưng lại chính là Trưởng Ban Nội chính đảng CSVN.
Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Thanh Nghị là con của đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nếu Nguyễn Minh Triết đang là Phó Bí thư tỉnh đoàn Bình Định thì Nguyễn Thanh Nghị đang chễm chệ trên chiếc ghế Phó Bí thư tỉnh ủy Kiên Giang; Lê Trương Hải Hiếu là con của Bí thư thành phố Sài Gòn Lê Thanh Hải. Ông này đang là Phó Chủ tịch quân 1, một quận sầm uất, giàu có nhất Sài Gòn; Nguyễn Bá Cảnh là con của Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh. Ông này đang được chỉ định làm Ủy viên Ban chấp hành đảng bộ Đà Nẵng. Tất cả những người này đều đang nắm những vị trí lãnh đạo cao cấp tại địa phương. Riêng Nguyễn Thanh Nghị đang là Ủy viên Dự khuyết Trung ương đảng.


Dù là những đảng viên Cộng Sản, có những người cha là lãnh đạo cao cấp của nhà nước CSVN nhưng ở 4 vị lãnh đạo mà tờ Người Đưa Tin nói “đẹp trai như tài tử” này đều được cho đi du học ở những nước Tư bản mà không phải là những nước “Cộng sản anh em” như: Trung Cộng, Bắc Hàn, Cu Ba. Đó cũng chính là nguyên nhân mà nhiều người thắc mắc, chính quyền CSVN phát động phong trào đấu tranh chống tự diễn biến, nhưng những người con của họ lại đi học ở những nước Tư Bản, thừa hưởng sự giáo dục của những nước ấy thì họ chống tự diễn biến như thế nào?
Song, cái mà nhiều người cho rằng nguy hại hơn ấy chính là không qua tuyển cử, họ được đặt vào những vị trí “ngon ăn”. Chính việc làm này đã cướp đi vị trí của những người khác có thực tài hơn. Nhưng biết làm sao được, trong một thể chế độc tài như ở Việt Nam, truyền thống “cha truyền con nối” luôn được chính quyền ưu tiên.
Trong bài báo trên tờ Người Đưa Tin cho dù không nói ra nhưng phần nào hàm chứa rằng, tuy các vị ấy có bằng cấp cao, được giáo thụ ở những nước nổi tiếng về giáo dục nhưng họ vẫn trở về quê hương để phục vụ đất nước. Và câu hỏi sẽ được đặt ra là, nếu họ không phải là con cái của những quan chức cấp cao trong lãnh đạo đảng CSVN thì họ có trở về để phục vụ đất nước? Câu trả lời được giải đáp trên tờ Infonet, “12/13 quán quân Olympia không về nước”.
Gameshow “Đường lên đỉnh Olympia” đã trải qua 14 năm phát sóng ở Việt Nam. Đó là nơi quy tụ của những học sinh giỏi nhất cả nước tham gia để đoạt được giải thưởng sẽ là chuyến du học ở nước Úc. 12/13 quán quân của chương trình này đã chọn quốc gia sở tại hoặc những nước tiến bộ khác để phục vụ hoặc tiếp tục con đường học vấn mà không quay về Việt Nam. Chỉ một trường hợp duy nhất quay trở lại.
Họ không trở về nước vì ngại phải sống với cảnh sáng cắp cặp đi, chiều cắp cặp về. Từ đó những ước mơ, hoài bão sẽ bị thui chột trong một quốc gia không chuộng nhân tài. Môi trường ở Việt Nam không khuyến khích sự cạnh tranh, và với những người có trí thức họ ngại phải gặp những thủ tục phức tạp, phải đút tiền chạy chọt để được vào làm việc trong những cơ quan nhà nước. Và nếu khi đã được vào làm rồi, họ lại phải gặp những vị thủ trưởng thiếu hiểu biết nhưng lại thừa sự độc đoán, tài năng của họ không được sử dụng vào đúng mục đích. Cho dù họ có chọn công việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học thì ở một nước như Việt Nam không đủ những cơ sở vật chất để có thể cho họ nghiên cứu.

Sống ở môi trường tiến bộ, văn minh, những quán quân của “Đường lên đỉnh Olympia” thoải mái được là chính mình. Họ có thể phát biểu những suy nghĩ mà không sợ phải bị cấm đoán, bị vạ miệng. Trong khi đó nếu ở trong nước họ phải cẩn trọng lời nói, suy nghĩ cũng chẳng dám thổ lộ cùng ai. Hoặc phải nịnh bợ, nói dối với cấp trên để được lòng lãnh đạo.
Cách đây vài năm, chính quyền Việt Nam có một chương trình “trải thảm đỏ” hòng đón người tài về để phục vụ đất nước. Thế nhưng chương trình đó cũng chẳng đi đến đâu. Cũng chẳng có mấy nhân tài nào về nước. Có lẽ, với những gì đã xảy ra với Giáo sư triết học Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện… khiến cho những người có thực tài phải dè chừng, cẩn trọng trước những lời ngon ngọt của chính quyền CSVN.
Một ví dụ điển hình cho việc sử dụng nhân tài của Việt Nam là trường hợp của ông Lê Bá Khánh Trình, ông này từng đoạt giải nhất trong kỳ thi giỏi toán quốc tế (Olympic) vào năm 1979. Sau đó ông được cho đi học tại Liên Xô và khi trở lại Việt Nam ông chỉ là một thầy dạy toán, hằng ngày phải đi dạy thêm như là một phương cách kiếm tiền. Tài năng của ông bị thui chột mà không có thêm những thành tựu mới nào. Người ta nhớ đến ông chỉ vì quá khứ huy hoàng và họ chạnh lòng vì cách sử dụng tài năng của chính quyền.
Chúng ta không trách vì sao những người tài lại không trở lại quê hương để cống hiến. Vì họ cũng như những người khác đều mưu cầu hạnh phúc, ổn định. Hơn nữa, với những người trí thức, họ cần một môi trường lành mạnh, bình đẳng để có thể phát huy hết năng lực của mình. Trong số 13 người quán quân chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” kia họ chẳng thể nào ngồi vào được chiếc ghế mà “4 vị lãnh đạo đẹp như tài tử” đang ngồi, bởi lý do rất đơn giản, họ không phải là “con ông cháu cha”, không phải là hạt giống đỏ để được cân nhắc. Những vị trí ngon lành đều đã được dành chọn cho những đứa con của lãnh đạo thì lấy đâu còn chỗ để cho nhân tài thi thố.
Đó cũng là bi kịch của Việt Nam vậy.
Người Quan Sát

Cuộc khủng hoảng ở Ukraine và các lệnh chế tài Nga của Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) đã đem lại cho Trung Quốc một khoản lợi nhuận khổng lồ.
Người xưa có câu “Ngư ông đắc lợi” (nghĩa là: hai người tranh giành nhau thì chỉ có lợi cho người thứ ba), thành ngữ này đã được người Trung Quốc sử dụng từ rất lâu. Áp dụng vào cuộc khủng hoảng của Ukraine thì có nghĩa là Trung Quốc là nước được hưởng lợi lớn nhất từ lệnh chế tài của phương Tây đối với Nga.
Kênh truyền thông của Trung Quốc cho rằng việc Nga rớt đài là cơ hội để nước này tiến gần tới “Giấc mơ Trung Hoa”.
Mặc dù Trung Quốc và Ukraine có mối quan hệ mật thiết, nhưng nó đã bị cản trở do cuộc khủng hoảng gần đây, đặc biệt là vì bắn rơi máy bay Malaysia MH17. Thay vào đó, nó giúp Nga xích lại gần hơn với Trung Quốc.
Cụ thể, nước Nga sẽ ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc.
Ước tính, giá trị thương mại giữa hai nước đạt 95 tỉ đôla Mỹ vào năm 2013. Và với những hiệp định mới được ký kết gần đây sẽ đưa quan hệ hai nước lên một “tầm cao mới”.
Hiệp định khí đốt trong 30 năm
Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng thống Nga Vladimir Putin vào cuối tháng 5 vừa qua đã đạt được hợp đồng khí đốt trị giá 400 tỉ đôla Mỹ trong 30 năm. Mặc dù trước đó, Trung Quốc không đạt được thỏa thuận mua khí đốt từ Nga với giá rẻ hơn so với phương Tây. Nghĩa là, Nga sẽ là nguồn cung cấp khí đốt với giá rẻ mạt cho vị hàng xóm khát năng lượng bắt đầu từ năm 2018.
Mức tín nhiệm Nga giảm xuống thấp nhất
“Bộ ba” độc quyền trong việc xếp hạng tín dụng các nền kinh tế thế giới, gồm Fitch, S&P và Moody’s, đã hạ mức tín nhiệm của Nga xuống kể từ khi Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) gia tăng nhiều vòng trừng phạt lên nước này.
Thêm vào đó, phán quyết mới đây của Tòa án Trọng tài Hague yêu cầu Nga phải bồi thường 50 tỉ đôla Mỹ vì đã tước đoạt của các nhân viên tập đoàn Yukos, đã làm cho mức tín nhiệm của Nga giảm sút.
“Nước Nga sẽ thay đổi chế độ”
Giá dầu thế giới liên tục giảm nhờ vào các nguồn khí đốt mới được tìm ra gần đây ở Châu Mỹ đã giúp giá dầu giảm xuống dưới 100 USD/thùng, buộc chính phủ Nga phải chú ý nhiều hơn đến việc chống đỡ nền kinh tế vốn đã gần rơi vào tình trạng suy thoái.
Một nhà kinh tế Nga thẳng thắn: “Nếu giá dầu rơi xuống 75USD và duy trì ở mức này trong suốt vài năm, nước Nga sẽ thay đổi chế độ. Hai năm trước, tôi có ấn định mức 60 USD nhưng bây giờ, căn cứ vào tình hình mức tăng trưởng, nạn tham nhũng và lệnh trừng phạt gia tăng, 75 USD sẽ là mức vừa đủ”.
Trung Quốc hoàn thành “Giấc mơ Trung Hoa”
Các chuyên gia chính trị Nga nhận định, khi Trung Quốc đang cần người ủng hộ “giấc mơ Trung Hoa” và khi Trung Quốc cũng đang bị cô lập bởi hành xử ở Biển Đông, thì liên minh hai nước lúc này quả là thời cơ vàng để hóa giải mọi hiềm khích cũ.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Châu Âu, nếu Nga cứ phát triển quan hệ với Trung Quốc như hiện tại, về lâu dài Trung Quốc sẽ trở thành “cường quốc năng lượng và xem Nga chỉ là một đối tác cấp thấp”. Khó có thể giành được quyền lực ở Trung Quốc, Nga chỉ có thể giải quyết bài toán hợp tác trong vai trò là một đối tác bình đẳng. Câu hỏi duy nhất là cái giá nào mà Nga sẽ phải trả cho quan hệ này?
Nguần: Đại Kỷ Nguyên

Theo thông tin từ Bloomberg, hiện tại Ngân hàng Thế giới đang xem xét việc phong tỏa chín dự án ở Liên Bang Nga, với tổng số tiền là 1,34 tỷ đôla.
Bộ tài chính các nước G7 có quyền biểu quyết hơn 40% trong Ngân hàng Thế giới, quyết định chống lại các dự án mới mà các tổ chức quốc tế thực hiện ở Nga.
Quyết định này được đưa ra trong thời gian diễn ra hội nghị qua điện thoại vào tuần trước. Trước đó Mỹ và Canada đã có ý định không ủng hộ các dự án của Ngân hàng Thế giới ở Nga, chiếm 20% số phiếu.
Hiện tại Ngân hàng Thế giới đang xem xét chín dự án tại Nga, với tổng số tiền là 1,34 tỷ đôla. Trong số đó có dự án về giáo dục mầm non và tăng hiệu quả sử dụng năng lượng. Có 10 dự án với tổng số tiền là 668 triệu đôla (gần một nửa trong tổng số tiền này được phân bổ) đang ở trong giai đoạn thực hiện và  cấp kinh phí.
Nhắc lại rằng, vào ngày 17 tháng 7, Mỹ đã áp đặt lệnh trừng phạt mới đối với các công ty của Nga, bao gồm “Gazprombank” và “Vnesheconombank”, các công ty năng lượng “Rosneft” và “Novatek” và các công ty công nghiệp quốc phòng Nga, bao gồm công ty “Kalashnikov” và “Almaz Antey”.
EU áp đặt lệnh trừng phạt đối với ngành tài chính Nga.
Ở Ukraine cũng chuẩn bị các biện pháp trừng phạt đối với Nga. Ủy ban đặc biệt của Nội các Bộ trưởng trong tuần sau sẽ công bố một danh sách các loại hàng hóa Nga không được phép qua biên giới Ukraine
Nguần: Việt Đại Kỷ Nguyên

Kỷ niệm sự kiện “4 tháng 6″ tròn 25 năm. Ngày 04 tháng 6 năm 1989, quân đội Trung Quốc đã “nhuộm máu” quảng trường Thiên An Môn, các cuộc biểu tình kháng nghị của các sinh viên tại quảng trường diễn ra liên tiếp trong mấy tuần đã bị trấn áp thật tàn khốc. Hàng trăm nghìn sinh viên cùng người dân đêm hôm đó đều đã bị giết hết, hình ảnh tại hiện trường lúc đó cực kỳ khủng khiếp và bi thảm.
Sự kiện “4 tháng 6″ được gọi là “vụ thảm sát Lục Tứ” hay “vụ thảm sát Thiên An Môn.” Sau vụ thảm sát “4 tháng 6″, Trung Cộng giữ kín nghiêm ngặt về những bức ảnh và tài liệu có liên quan tới chân tướng sự kiện “4 tháng 6″ năm 1989.
Trong những năm gần đây, thuận theo chân tướng của sự kiện “ngày 4 tháng 6″ không ngừng được phơi bày ra ánh sáng, sự phong tỏa của ĐCSTQ đã dần dần bị vượt qua. Gần đây, người dân tại Trung Quốc đại lục đã phát hiện, rất nhiều từ vựng nhạy cảm về sự kiện “ngày 4 tháng 6″ đã được dỡ bỏ. Khi người ta tìm kiếm hình ảnh qua baidu.com, họ có thể tìm thấy rất nhiều hình ảnh liên quan đến sự kiện “4 tháng 6″, trong đó bao gồm: hình ảnh về sự kiện các học sinh trung học diễu hành biểu tình “4 tháng 6″, hình ảnh các học sinh bao quanh tượng Nữ thần Dân Chủ, hình ảnh các các nạn nhân tử nạn và xe đạp trên mặt đường .v.v…
Quân đội Trung Quốc sử dụng loại đạn hoa mà quốc tế cấm sử dụng để bắn vào các học sinh. (Hồ sơ án 4/6)
Cư dân Bắc Kinh đưa học sinh bị thương đến bệnh viện. (Hồ sơ án 4/6)
Vỏ đạn mà người dân Bắc Kinh nhặt được (Hồ sơ án 4/6)
Một sinh viên bị thương máu me đầy người (Hồ sơ án 4/6)

Nguần: Đại Kỷ Nguyên

Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản (đứng đầu là Mỹ) và cộng sản (đứng đầu là Liên Xô) đã chấm dứt vào đầu thập niên 1990 sau khi Liên Xô tan rã và chế độ cộng sản sụp đổ ở Ðông Âu. Vui mừng trước sự cáo chung của chiến tranh lạnh, không hiếm người hân hoan tin tưởng từ nay thiên hạ sẽ thái bình, và vì thái bình, sẽ thịnh vượng mãi mãi.

Tuy nhiên, sự lạc quan kéo dài không lâu. Hiện nay, bóng ma chiến tranh lạnh đang lù lù xuất hiện trở lại với hai kẻ thù rất lớn: Nga và Trung Quốc.
Từ mấy tháng nay, qua các biến động tại Ukraine, người ta thấy rõ là Vladimir Putin có rất nhiều tham vọng và sẵn sàng bất chấp tất cả các thiệt hại về kinh tế để mở rộng tầm ảnh hưởng của Nga, qua đó, biến Nga thành một đế quốc lớn và mạnh, đủ sức để đương đầu với Mỹ và Cộng Ðồng Châu Âu. Việc xâm lăng của Nga ở một phần lãnh thổ của Ukraine đặt Mỹ và các đồng minh vào một thế rất khó xử: Họ chỉ có một vũ khí duy nhất là kinh tế, nhưng trong lãnh vực kinh tế, hầu như tất cả các quốc gia ở Tây Âu đều có những quan hệ chằng chịt với Nga, do đó, chủ trương cấm vận đối với Nga rất dễ gây nên những phản ứng ngược.
Tuy vậy, không ai tin Nga có thể uy hiếp được Mỹ và Châu Âu. Sức mạnh của Nga chỉ đủ để uy hiếp một số quốc gia trong khu vực, chủ yếu là các quốc gia nằm trong khối Liên Xô cũ. Ngay cả khi thu phục lại hết tất cả các quốc gia trước đây từng nằm trong Liên Bang Xô Viết, Nga cũng không đủ mạnh để trở thành một nguy cơ đối với thế giới.
Kẻ thù thứ hai, Trung Quốc, đáng sợ hơn. Sau mấy chục năm ẩn nhẫn lo phát triển theo chính sách của Ðặng Tiểu Bình, gần đây, có lẽ tự tin vào sức mạnh kinh tế và quân sự của mình, Trung Quốc bắt đầu giương vây giương cánh thách thức với thế giới. Sự thách thức ấy thể hiện ở hai địa điểm: Châu Phi và Châu Á. Phần lớn người Việt, theo dõi các tranh chấp biển và đảo giữa Trung Quốc với Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Philippines và Việt Nam, dễ có cảm tưởng chiến tranh lạnh đang xảy ra ngay trong khu vực mình ở. Tuy nhiên, theo Nick Turse, trên tờ The Huffington Post mới đây, tâm điểm của cuộc chiến tranh lạnh ấy không chừng đang xảy ra ở Nam Sudan tận Phi Châu.
Nam Sudan (tên đầy đủ là Cộng Hòa Nam Sudan, The Republic of South Sudan) là một quốc gia mới nhất hiện nay: Nó chỉ được thành lập vào năm 2011 sau khi tách rời ra khỏi Sudan. Về địa thế, Nam Sudan giáp giới, về phía Bắc, với Sudan; phía Ðông, với Ethiopia; phía Ðông Nam với Kenya; phía Nam với Uganda; phía Tây Nam với Cộng Hòa Dân Chủ Congo; và phía Tây với Trung Phi (Central African Republic). Với dân số khoảng 9 triệu, Nam Sudan có khá nhiều sắc tộc; các sắc tộc ấy lại hiếm khi thuận hòa với nhau, do đó, hầu như ngay sau ngày tuyên bố lập quốc, Nam Sudan đã rơi vào nội chiến. Hiện nay, hai lực lượng chính đang tranh giành nhau một cách quyết liệt nhất là lực lượng chính phủ của Tổng Thống Salva Kiir và một lực lượng khác do cựu Phó Tổng Thống Riek Machar, người bị Tổng Thống Kiir cáo buộc là âm mưu đảo chính, lãnh đạo. Cả hai đều được ủng bộ bởi nhiều sắc tộc. Hậu quả là có ít nhất trên 10,000 người bị giết; vô số phụ nữ bị hãm hiếp và khoảng một triệu rưỡi người phải tản cư, trong đó, có trên 250,000 người phải chạy sang các nước láng giềng để xin tị nạn.
Khi Nam Sudan tổ chức trưng cầu dân ý để ly khai ra khỏi Sudan vào năm 2011, Mỹ rất ủng hộ. Tờ The New York Times xem sự ra đời của nước Nam Sudan có thể, trong chừng mực nào đó, được xem là một tác phẩm của Mỹ. Trước, quan hệ giữa Mỹ và Sudan cực xấu: Mỹ xem Sudan như một nơi chứa chấp bọn khủng bố, do đó, đã ra lệnh cấm vận Sudan trong thời gian khá dài. Giúp đỡ thành lập nước Nam Sudan được xem là một cách để giảm thiểu các nguy cơ gây rối từ Sudan.
Ðể giúp Nam Sudan trong những năm chập chững lập quốc, Mỹ đã đổ ra cả hàng tỉ Mỹ kim để viện trợ, xây dựng hạ tầng cơ sở, từ cầu đường đến trụ sở văn phòng chính phủ các cấp, và giúp đỡ về quân sự cũng như an ninh. Ngày Nam Sudan tuyên bố độc lập, Tổng Thống Mỹ Barack Obama phát biểu: “Tôi tự tin là quan hệ hữu nghị giữa Nam Sudan và Mỹ sẽ chỉ càng ngày càng sâu đậm trong những năm sắp tới.” Các nhà chiến lược của Mỹ hy vọng với sự ổn định, phát triển và dân chủ ở Nam Sudan, Mỹ có thể sẽ đẩy mạng tiến trình dân chủ đến các nước chung quanh. Ngoài ra, còn một lý do khác, rất thực dụng: Nam Sudan là nơi sản xuất dầu khí lớn hàng thứ ba ở Châu Phi, chỉ sau Nigeria và Angola.
Tuy nhiên, các dự tính của Mỹ chỉ là một giấc mơ. Chính phủ nước Nam Sudan càng ngày càng tỏ ra tham nhũng và bất lực, họ lại không đoàn kết được mọi người. Các tranh chấp giữa các đảng phái và các sắc tộc càng ngày càng trầm trọng. Tiền viện trợ của Mỹ đổ vào đó như muối đổ biển. Tuyệt vọng với Tổng Thống Kiir, Mỹ quay sang ủng hộ cựu Phó Tổng Thống Machar.
Giữa lúc ấy, Trung Quốc nhảy vào giúp Tổng Thống Kiir. Họ viện trợ cho chính phủ Kiir số lượng vũ khí trị giá cả hàng chục triệu đô la. Họ cũng đổ hàng tỉ đô la giúp chính phủ Nam Sudan xây dựng các cơ sở vật chất mà không kèm theo bất cứ điều kiện gì về dân chủ và nhân quyền. Bù lại, họ được quyền khai thác và mua dầu khí của Nam Sudan. Hiện nay, Trung Quốc tiêu thụ đến gần 80% số lượng dầu thô của nước này.
Như vậy, trong cuộc nội chiến ở Nam Sudan hiện nay, có hai lực lượng chính đứng phía sau: Mỹ và Trung Quốc. Bộ Trưởng Thông Tin Nam Sudan Michael Makuei Leuth xem những xung đột tại nước ông là điểm nóng trong cuộc chiến tranh lạnh giữa hai nền kinh tế và quân sự lớn nhất thế giới hiện nay.
Không phải ai cũng đồng chí với ông, nhưng hầu như ai cũng thấy những tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc tại Châu Phi càng ngày càng quyết liệt. Người ta chỉ không biết được một điều: Khi nào thì những tranh chấp ấy nổ lớn?

Nguyễn Hưng Quốc (Nguồn: VOA)

Trong khi dư luận trong và ngoài Trung Quốc đang chú ý đến chiến dịch săn hổ diệt ruổi, bài trừ tham nhũng với đỉnh điểm là công khai tội danh của cựu ủy viên Bộ chính trị Chu Vĩnh Khang thì có tin về một cuộc chiến quyết liệt khác giữa hai nhân vật trong Bộ chính trị Trung Quốc là Tổng bí thư Tập Cận Bình và Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm trưởng ban tuyên truyền Lưu Vân Sơn.


Đài truyền hình Trung Quốc CCTV, tiền đồn của ban tuyên truyền bị đánh liên tục thời gian qua. Vụ này được khởi động cùng vụ đánh sập Chu Vĩnh Khang hơn nửa năm trước. Cụ thể, tháng 12 năm ngoái, Lý Đông Sinh, cựu phó tổng giám đốc đài truyền hình quốc gia đã bị bắt mở đầu cho chuỗi các nhân vật trong đài bị cảnh sát điều tra..
Ông Lý Đông Sinh từng là Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trước khi chuyển sang làm Thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc. Dư luận Trung Quốc đồn là Lý Đông Sinh được coi là người thân tín với Chu Vĩnh Khang và còn mai mối cho ông Chu lấy vợ hai là bà Giả Hiểu Diệp, nguyên phát thanh viên của CCTV. Vì vậy, Lý được Chu kéo về Bộ công an Trung Quốc.
Khi Chu đổ, thì Lý đổ theo và các đàn em của Lý tại CCTV cũng bị thanh trừng. Ngày 1.6, Quách Chân Tỷ - giám đốc kênh tài chính của CCTV bị cảnh sát hỏi thăm. Năm ngày sau, Vương Thế Kiệt - người sản xuất chương trình kênh tài chính của CCTV bị điều tra. 
Ngày 11.7, phát thanh viên nổi tiếng Nhuế Thành Cương cùng phó giám đốc kênh tài chính CCTV là Lý Dũng đã bị bắt với nghi ngờ dính líu tham nhũng. Mới nhất 30.7, thêm Lưu Văn giám đốc kênh CCTV9 cũng bị cảnh sát triệu tập.
Trong nửa năm qua, hơn trăm nhân viên của CCTV bị điều tra và nhiều trong số họ bị sa thải hoặc bị giam giữ. Trong số những người bị điều tra có các nhân vật cộm cán là phó giám đốc của đài như La Minh, Cao Phong, Tôn Ngọc Thắng, Vương Chính Minh...
Hoạt Pha, một nhà phân tích chính trị Trung Quốc cho biết: "CCTV là một cơ quan quyền lực tại Trung Quốc mà hiếm ai dám động vào. Việc một loạt các nhân viên của CCTV bị bắt bớ cho thấy ông Tập Cận Bình đang tấn công vào thành trì của ông Lưu Vân Sơn".

 Trong Bộ chính trị Trung Quốc, ông Tập xếp số 1
còn ông Lưu xếp số 5
Với quyền hạn của mình với cơ quan truyền thông, ông Lưu Vân Sơn đã nhiều lần tỏ thái độ bất mãn về chiến dịch đả hổ diệt ruồi của ông Tập Cận Bình. Các bản tin của CCTV cuối tháng 7 thường đưa tin mờ nhạt vụ đánh Chu Vĩnh Khang hay trang điện tử của Nhân dân nhật báo sau khi đưa bài: "Đánh hổ lớn Chu Vĩnh Khang không phải là đợt đánh tham nhũng cuối" đã bị rút xuống.
Trong thường vụ Bộ chính trị 7 người của ĐCS Trung Quốc thì ông Tập Cận Bình xếp số 1 còn ông Lưu Vân Sơn xếp thứ 5. Giới quan sát cho rằng ông Lưu Vân Sơn là người thân tín của ông Giang Trạch Dân cũng giống như Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai hay Tăng Khánh Hồng.
Anh Tú (tổng hợp)

Cuộc bắt giữ và điều tra về tội danh tham nhũng đối với Chu Vĩnh Khang, cựu bộ trưởng Công An Trung Quốc và ủy viên thường vụ Bộ Chính Trị, được xem là “con hổ” cao cấp nhất của lãnh đạo Trung Quốc đang được tiến hành.
Chu Vĩnh Khang từng phụ trách quỹ tài chính “phòng chống và đấu tranh lại các thế lực thù địch từ bên trong và bên ngoài Trung Quốc,” với 700 tỷ Nhân Dân Tệ (khoảng 114 tỷ USD), lớn hơn cả quỹ dành cho quốc phòng.
Tạp chí Tài Kinh Tế ngày 29 tháng 7 lại đưa tin Chu Bân, con trai Chu Vĩnh Khang, bị cơ quan công tố thành phố Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc, cũng bắt giữ vì dính líu đến các hoạt động kinh doanh trái phép.
Khi còn là Phó Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói rằng, Ðảng Cộng Sản Trung Quốc (ÐCSTQ) chỉ là nơi tập trung thành phần giá áo túi cơm cần phải được “trong sạch hóa.”
Ông Tập cho rằng, những tệ nạn trong đảng cầm quyền suốt hơn 63 năm tại Trung Quốc là “thiếu lý tưởng, sa đọa, vô nguyên tắc và vô trách nhiệm đã xâm nhập mọi cấp đảng viên” với những mức độ khác nhau và làm mất uy tín trong dân chúng.
Theo AFP, tất cả những chức vụ quan trọng tại Trung Quốc, từ cấp thấp nhất đến cấp lãnh đạo, từ trong chính quyền đến lãnh vực kinh tế, xí nghiệp, đều nằm trong tay các đảng viên. Ông Tập Cận Bình lo ngại rằng đảng cộng sản đã biến thành nơi chia chác quyền lợi. Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân.
“Nhiều người gia nhập đảng không phải vì Chủ Nghĩa Mác hay để nỗ lực xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa theo màu sắc Trung Hoa, hoặc là để chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng cho chính nghĩa cộng sản, mà họ vào đảng vì được hưởng đặc quyền đặc lợi cá nhân,” Tập Cận Bình nói.
Trong bài “Những người cộng sản ở Trung Nam Hải ngập trong xa hoa,” Leo Lewis (trên tờ Polska The Times) viết rằng, “Những nhà lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã quên lý tưởng cộng sản, họ chỉ nghĩ duy nhất tới quyền lực, và nhờ nó họ đã rất nhanh chóng kiếm được tài sản khổng lồ.”
Trả lời tạp chí “Newsweek” ngày 24 tháng 11, 2011, Richard McGregor, cựu trưởng văn phòng tờ “Finiacial Times” tại Bắc Kinh nhận định:
“Trung Quốc hiện nay là một quốc gia tham nhũng. Tuy nhiên, ở mức nhỏ hơn, ví dụ, so với Indonesia thời Suharto, nơi mà lợi nhuận bất hợp pháp của giai cấp thống trị là nguyên tắc duy nhất của sự vận hành hệ thống và vì thế tất cả bị lật ngược. Tại Trung Quốc, tham nhũng đang được kiểm soát. Ðang có một thứ thuế kiểu như trên doanh thu cho mỗi giao dịch – mức thông thường của nó ở khoảng 10%. Tham nhũng cho phép phân phối một phần giàu có trong giới cầm quyền, là một loại keo để kết giữ hệ thống hiện có. Các nhân vật ở đỉnh quyền lực thường có lương thấp, nhưng núi tiền xung quanh họ không thể tưởng tượng nổi, và được vun bồi với vận tốc cực lớn.”
Richard McGregor nói thêm:
“Những người bị bắt vì tham nhũng, về cơ bản thuộc hai loại: hoặc họ là những người thua cuộc trong cuộc tranh giành quyền lực tại địa phương, hoặc lòng tham của họ quá đáng tới mức làm ảnh hưởng tới an toàn của tất cả các đối tượng khác trong hệ thống. Những kẻ tham lam bị bắt giữ nhân danh sự bảo đảm an toàn cho những kẻ tham nhũng khác. Thường xảy ra đối với những người trước khi nghỉ hưu – tỷ lệ không cân đối phần lớn những người bị bắt ở tuổi 58 hoặc 59. Người Trung Quốc hay gọi là hội chứng 59 – anh 59 tuổi, sau một năm nữa sẽ nghỉ hưu – nói chung lương hưu rất thấp – và đây là cơ hội cuối cùng để kiếm được số tiền nào đó. Vì thế họ đánh mất hệ thống phanh hãm. Tuy nhiên, bất chấp những tiếng ồn ào đi kèm với các chiến dịch chống tham nhũng, ngay cả khi bị bắt quả tang, gần như ít khi bị kết thúc trong nhà tù. Trong 30 năm qua, gần 200 ngàn quan chức bị phát hiện nhận hối lộ thì 80% nhận khuyến cáo. Các cuộc điều tra chỉ chiếm 6% và chỉ 3% trường hợp có án tòa.”
Cho nên, thực tế cuộc chiến chống tham nhũng mà ông Tập Cận Bình đang thực hiện chỉ là một cái cớ, nhân danh chống tham nhũng để thanh lọc ảnh hưởng quyền lực, triệt hạ các nhóm lợi ích bất lợi cho vây cánh mình.
Cuộc chiến chống tham nhũng ở các hệ thống chính trị độc tài toàn trị như ở Trung Quốc, Việt Nam, là trận đánh của hiệp sĩ Don Kishot với cối xay gió. Quyền lãnh đạo duy nhất của một đảng đã tạo ra tầng lớp quan chức làm giàu không bằng sức lao động, trí tuệ của mình mà từ các đặc quyền, đặc lợi.
Sinh thời, tướng Trần Ðộ từng nói đã nói, “Kinh nghiệm lịch sử trong nước và thế giới đã chứng minh rằng mọi sự độc quyền, độc tôn đều đưa tới thoái hóa, ruỗng nát, tắc tỵ không những của cơ thể xã hội mà cả cơ thể đảng nữa.”
Cũng trong tuần qua, tại Trung Quốc, hơn 850 công chức ở tỉnh Quảng Ðông bị buộc thôi việc trong chiến dịch dẹp nạn được gọi là “quan chức trần trụi,” tức là có vợ hoặc chồng và con cái di cư sang sinh sống ở nước ngoài.
Cuộc điều tra của nhà cầm quyền địa phương xác định có 2,190 “quan chức trần trụi” và 866 trong số đó đã bị cách chức, theo báo cáo được đăng trên cổng thông tin chính thức của nhà cầm quyền tỉnh Quảng Ðông ngày 25 tháng 7 năm 2014.
Tân Hoa Xã khẳng định hiện tượng “quan chức trần trụi” là một vấn đề nghiêm trọng ở Quảng Ðông, và dẫn lời của Vương Hoán Xuân, một quan chức cấp cao trong Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, rằng “khoảng 40% các vụ án kinh tế và gần 80% các vụ tham ô, biển thủ công quỹ liên quan tới các quan chức này.”
Ðấy mới chỉ là con số trong một tỉnh. Còn bao nhiêu nữa trên lục địa Trung Quốc mênh mông với 22 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 thành phố trực thuộc trung ương (Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Trùng Khánh), không nói tới hai đặc khu hành chính Hongkong và Macao.
Trong tháng 11, 2011, Viện Nghiên Cứu Hurun của Thượng Hải và ngân hàng Trung Quốc đưa ra danh sách những người Trung Quốc giàu có nhất, được công bố trên tờ báo Bắc Kinh “China Daily.”
Bản báo cáo cho thấy đến 46% số người được Viện Hurun khảo sát từ tháng Năm đến tháng 9 trong 18 thành phố – những người tham gia cuộc khảo sát trung bình ở tuổi là 42 và có tài sản trị giá 9,6 triệu USD – đều muốn ra đi khỏi nước, và 14% trong số đó đã làm các thủ tục giấy tờ liên quan. Hầu hết người Trung Quốc giàu có đều muốn sống ở Mỹ hoặc Canada. Con số thực tế chắc chắn cao hơn nhiều.
Phê phán xã hội phương Tây, chỉ trích đạo đức hai mặt của nó, nhưng quan chức của các nước cộng sản đều giống nhau. Họ gửi con cái sang các nước phương Tây học tập, thụ hưởng nền giáo dục ưu việt hơn hẳn nên giáo dục xã hội chủ nghĩa. Những người thuộc giới “thái tử đảng” khi học xong thì trở về với một vị trí được dọn sẵn trong bộ máy công quyền, kế tục cha chú vơ vét, đục khoét tài sản công. Còn quan chức thuộc loại tàng tàng bậc trung thì tìm cách cho con cái ở lại định cư bằng mọi giá, thậm chí kết hôn giả.
Quan chức Việt Nam cũng đã và đang như thế, thậm chí trang trải chi phí học hành cho con lộ liễu bằng tiền lại quả hợp đồng như vụ in tiền Polymer của cựu Thống Ðốc Ngân Hàng Lê Ðức Thúy.
Tôi có anh bạn học từ hồi phổ thông, trong chuyến đi công du nước ngoài, đã gặp tôi và tâm sự rằng, anh có hai con, một đứa gửi đi học ở Singapore, một đứa khác ở London, Anh quốc. Cả hai đều đã được mua nhà cửa đàng hoàng. “Học xong thì chúng nó sẽ ở lại,” anh ta nói. “Xã hội Việt Nam bây giờ quá nhiễu loạn, không có tương lai bảo đảm, về hưu là hết nên tao phải tính trước như thế” – anh ta nói thêm. Mà anh ta mới chỉ là một vụ trưởng của Quốc Hội. Anh ta cũng nói rằng, hiện rất ít ai tin vào lý tưởng cộng sản và chế độ, vào đảng cốt để kiếm chác, nếu như có một Yeltsin Việt Nam là họ sẽ trở cờ.

Ông Tập khẳng định giới lãnh đạo Trung Quốc phải chịu trách nhiệm khi đảng và đất nước trao cả vận mệnh quốc gia.
Tờ Bưu điện Hoa Nam hôm nay (6/8) đưa tin, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nói với các quan chức hàng đầu Trung Quốc hôm 26/6 rằng:
Ông đã bỏ cả sinh mệnh và uy tín cá nhân lên đặt cược vào cuộc chiến chống tham nhũng.
Các chi tiết sau đó cũng được Nhật báo Trường Bạch Sơn, một tờ báo đảng của Trung Quốc, tiết lộ qua việc dẫn lời 1 quan chức địa phương sau khi nhận được hướng dẫn từ ông Tập.
'Chúng ta phải chịu trách nhiệm kể từ khi đảng và đất nước trao vận mệnh quốc gia dân tộc vào tay chúng ta', ông Tập nhấn mạnh.


Ông Tập Cận Bình cho biết, lực lượng tham nhũng và chống tham nhũng đang đối đầu, thậm chí đang rơi vào một tình trạng bế tắc nhưng ông sẽ theo đuổi chiến dịch chống tham nhũng đến cùng.
Theo Bưu điện Hoa Nam, phát biểu mạnh mẽ của Tập Cận Bình nhằm phản ứng lại một số nhà phê bình và quan điểm nghi ngờ rằng đây là cuộc thanh trừng chính trị.
Ông Tập cũng kêu gọi các nhà điều tra của Ủy ban Kiểm tra - kỷ luật TƯ kiểm tra các khu vực nơi ông từng làm việc.
Chủ tịch Trung Quốc muốn chứng minh rằng đây là một chiến dịch chống tham nhũng vì tương lai và lợi ích của đất nước.
Trương Minh, một nhà khoa học chính trị từ Đại học Nhân dân ở Bắc Kinh, cho biết:
Những nhận xét cho thấy chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập Cận Bình chắc chắn đã bị đe dọa bởi một số nhóm lợi ích tầng lớp trên.
Tuy nhiên, những tuyên bố của ông Tập cho thấy sẽ không có giới hạn nào trong cuộc chiến này.
Ông Bình được cho là cũng đã nhận được cổ vũ từ một số nhà lãnh đạo và họ khuyên ông hãy học tập tinh thần Chu Dung Cơ, cựu Thủ tướng Trung Quốc.
Ông Chu cũng từng phải đương đầu với nạn tham nhũng và các trở lực cải cách kinh tế nhưng vẫn giành được nhiều lời khen ngợi.
Ông từng nổi tiếng với câu nói năm 1998:
'Chuẩn bị 100 chiếc quan tài và để lại cho tôi 1 chiếc. Tôi sẵn sàng chết cùng họ trong cuộc chiến này nếu nó mang lại sự ổn định kinh tế đất nước lâu dài và lòng tin của công chúng vào chính phủ'.

Người đứng đầu Bộ Ngoại giao Bắc Triều Tiên Ri Su Yong hôm nay bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam nhân chuyến công du các quốc gia Đông Nam Á theo lời mời của Bộ trưởng Phạm Bình Minh.

Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết chuyến thăm sẽ kéo dài 3 ngày, nhưng không thông báo chi tiết về chuyến công du này.
Theo hãng tin chính thức của Bắc Triều Tiên, phái đoàn của ông Ri “rời Bình Nhưỡng hôm thứ Bảy (2/8) để tới thăm Lào, Việt Nam, Miến Điện, Indonesia và Singapore”.
Sau khi tới Việt Nam, nhà ngoại giao Bắc Hàn sẽ tham dự Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN (ARF) ở Myanmar, (Miến Điện) vào ngày 10/8.
Báo chí Hàn Quốc nhận định rằng ông Ri hy vọng sẽ tìm cách củng cố quan hệ với các quốc gia tới thăm trong bối cảnh Bắc Triều Tiên vẫn tiếp tục bị cô lập về mặt ngoại giao xuất phát từ các biện pháp trừng phạt quốc tế liên quan tới các vụ thử nghiệm hạt nhân của nước này.
Ngoài đại diện các quốc gia thuộc Đông Nam Á, ngoại trưởng các nước Mỹ, Nhật, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng tham gia Diễn đàn Khu vực ASEAN.
Tin cho hay, ông Ri sẽ có các cuộc hội đàm với những người đồng cấp của Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ bên lề ARF.
Năm 2013, Nhật Bản đề nghị Việt Nam giúp giải quyết vụ Bình Nhưỡng bắt cóc công dân Nhật trong lúc Thủ tướng Shinzo Abe tuyên bố muốn giải quyết rốt ráo vấn đề tồn tại hàng chục năm qua này trong nhiệm kỳ của mình. Đáp lại, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cam kết sẽ hỗ trợ xứ sở mặt trời mọc.


Trả lời VOA Việt Ngữ qua email, ông Ono Masuo, Tham tán chính trị của Đại sứ quán Nhật tại Hà Nội, nói rằng vụ việc với Bắc Hàn là một vấn đề quan trọng vì nó liên quan tới chủ quyền cũng như mạng sống và sự an toàn của các công dân nước ông.
Nhà ngoại giao này còn cho rằng Việt Nam có thể đóng một vai trò trong việc tìm lời giải cho số phận của các công dân Nhật.

Tháng trước, Tokyo đã dỡ bỏ một số biện pháp trừng phạt với Bắc Triều Tiên sau khi Bình Nhưỡng đồng ý thiết lập một ủy ban điều tra về vụ bắt cóc công dân Nhật.
Chưa rõ là Hà Nội có nêu lên vấn đề công dân Nhật bị bắt cóc trong cuộc gặp lần này với ông Ri hay không.
Nguồn: MOFA, KCNA, The Chosun Ilbo, Reuters, VOA

Bóng đè
Làm báo có phải là làm chính trị?
Khi tôi cầm bút để viết về một vấn đề xã hội mang tính giải trí (thơ, văn), không ai nói gì tôi cả. Vẫn trạng thái đó, nhưng chủ đề mang tính phê phán những sai lầm của chính quyền hiện thời thì có nhiều người lại nhắc khéo tôi rằng: Mày đang làm chính trị!
Ngay lập tức, làm chính trị trở thành một bóng đè đối với tôi, vì lúc ấy tôi không hiểu được rằng, nó là khía cạnh cơ bản của cuộc sống và đơn giản vì cái ngữ từ “chính trị/làm chính trị” bị biến dạng quá xấu, trở thành một mũi giáo sẵn sàng chĩa vào bất cứ ai để nhằm bảo vệ cho một nhóm người quyền lực nào đó trong xã hội.
Chính trị/làm chính trị bị lạm dụng đến mức tồi tệ. Họ tước quyền đó của chính tôi, chính bạn, họ che giấu chính trị và biến nó thành bóng ma sợ hãi. Khiến nó từ cái cơ bản cuộc sống của mỗi một công dân trở thành thứ đặc quyền đặc lợi cho một số người.
Trong khi, chính trị bao quanh tôi. Tôi làm chính trị từ hành động nhỏ nhất là đi họp tổ dân phố, treo cờ vào dịp lễ cho đến to hơn là đi bầu cử, nộp thuế... Chỉ là tôi không biết nó cho đến ngày tôi gõ bài phê phán chính quyền.
Hóa ra, chính trị gần gũi đến như vậy.
Do đó, khi được tin một vài hội viên đã rời Hội vì xét thấy tính chính trị hoặc không muốn tham gia chính trị thì tôi nghĩ ngay đến hình ảnh của mình trước đây.
Với bóng đè “làm chính trị” mà viên an ninh, người dân, bạn bè tôi “ban phát” cho. Trong đám người đó, chỉ có viên an ninh mới biết tác dụng của bóng đè đó, đối với một thứ (chính trị) được hóa trang rùng rợn, nguy hiểm, mặc dù bản chất nó không phải vậy.
Vậy nên, dù tôi có sự cảm thông với sự rút ra đó đến bao nhiêu thì tôi càng phải chia sẻ, càng muốn mọi người (từ hội viên cho đến bạn đọc) nhận diện được cái chính trị là gì? Và làm chính trị là gì? Thay vì những ý niệm mơ hồ thường bị quy chụp trước đây.
Không phải là bóng đè
Chính trị là sự rộng mở và tồn tại luôn luôn trong xã hội, trong khi đó, “hoạt động chính trị là các hoạt động nhằm gây ảnh hưởng tới các quyết định của Nhà nước, của tổ chức xã hội mà trong đó, mình là một thành viên. Khi đó, hoạt động chính trị không còn là đặc quyền của Nhà nước hay lãnh đạo một tổ chức, mà nó là quyền lợi và nghĩa vụ của toàn dân, của toàn xã hội.”
Do đó, bản thân mỗi vị hội viên Hội Nhà báo độc lập Việt Nam nên tự nhắc nhở nhau rằng: Làm chính trị không phải là định nghĩa riêng của một vị chính trị gia. Khi anh ở trong bầu không gian xã hội của một quốc gia bất kỳ thì chính anh đã tham gia vào chính trị rồi. Các anh (chị) chỉ có thể khiến nền chính trị đó xấu hoặc tốt, các anh (chị) hoàn toàn không vô can trước chính trị/ trò chơi chính trị. Mỗi hành vi của các anh (chị) đều được chi phối bởi yếu tố chính trị, các anh chỉ có được quyết định: phản kháng chính trị hay ủng hộ chính trị hiện tại mà thôi (thái độ chính trị).
Do đó, khi các anh chị muốn có tiếng nói độc lập, hướng đến một xã hội dân chủ, nghĩa là các anh chị đã tham gia chính trị.
Việc tham gia Hội (dù độc lập hay phụ thuộc yếu tố nhà nước) thì các anh chị cũng là tham gia hoạt động chính trị.
Tác giả Việt Hoàng trong một bài viết trên danluan đã nhấn mạnh rằng: “…Chính trị là làm việc cùng nhau để thay đổi xã hội và làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Chính trị không có gì là xấu mà ngược lại nó là sự cống hiến và hy sinh cao đẹp. Sở dĩ chính trị xấu là do những người tốt lẩn tránh nó và nhường lại nó cho những kẻ xấu…”.
Vâng! Với quan điểm nêu trên, chúng ta đang tham gia chính trị/ hoạt động chính trị. Và chúng ta không từ bỏ điều đó hoặc cố che giấu điều đó. Đừng khiến chính mỗi người chúng ta phải mắc bệnh “sợ chính trị” đến như vậy. Đừng để chính trị bị lũng đoạn bởi một nhóm người như tôi đã đề cập ở phía trên. Chính trị là cơ bản, chính trị là quyền lợi. Chính trị không phải là bóng đè của bất kỳ một công dân nào trong xã hội cả.
Nếu chúng ta – những con người cầm bút, những người biết vào internet, những người tri thức những người tham gia Hội đoàn độc lập mà còn sợ thế thì thử hỏi những người nông dân, công dân sẽ như thế nào?
Chúng ta đến bao giờ mới thay đổi cái thực trạng chính trị xã hội đầy bi đát nếu ta cứ sợ “làm chính trị/hoạt động chính trị”???
Tôi mong rằng bản thân chúng ta nên hiểu mặc định như vậy, để tránh tình trạng vào rồi lại ra. Việt Nam Thời Báo là một trang báo đang tham gia vào quá trình chính trị và những người đang là hội viên là hoạt động chính trị. Chúng ta đã vận động cho một xã hội tốt đẹp hơn bằng tiếng nói phản biện của mình trên mọi mặt trận của đời sống. Đừng sợ hãi chính trị, khi nào còn sợ, nghĩa là khi đó chúng ta chưa thể độc lập, chưa phải là người tự do thực sự.

Đừng làm kẻ dốt nát
Bertolt Brecht cũng từng đề cập đến vấn đề này như sau: “Kẻ dốt nát tệ hại nhất chính là kẻ dốt nát về chính trị. Hắn không nghe gì cả, không thấy gì cả, không tham gia bất cứ vai trò gì trong đời sống chính trị. Có vẻ như hắn không biết chi phí sinh hoạt, giá của đậu, của bột mỳ, tiền thuê nhà, giá cả thuốc men, tất cả đều phụ thuộc vào các quyết định chính trị. Hắn thậm chí còn tự hào về sự thiếu hiểu biết chính trị của mình, ưỡn ngực ra khoe ta đây ghét chính trị. Đứa ngu dốt này không biết rằng, chính sự thờ ơ đối với chính trị của hắn mà từ đó nảy sinh nạn mại dâm, trẻ em bị bỏ rơi, nạn cướp bóc, và tệ hơn tất cả là nạn quan chức tham nhũng, tay sai của các tập đoàn bóc lột đa quốc gia”.
Vậy nên, hãy biết rằng chính trị luôn ở quanh ta, các hoạt động chính trị vẫn diễn ra ở mọi hành vi xã hội, ở mọi công dân với các thứ bậc xã hội. Hãy nhẹ nhàng đón nhận và tự hào là mình đang làm chính trị. Nhất là trong việc làm báo.
Con đường chúng ta đi còn rất dài, nghiệp cầm bút (làm chính trị) còn lắm gian nan. Nhưng tôi tin rằng, phần đông hội viên Hội nhà báo Độc lập sẽ kiên trì với con đường đã chọn, sẽ tiếp tục “cung cấp thông tin trung thực và độc lập đến xã hội, thúc đẩy sự tôn trọng những quyền con người trong đó có quyền tự do biểu đạt - freedom of expression) như chị Phương Anh (một Hội viên) từng chia sẻ.

Lê Tuấn - Hội viên Hội Nhà báo độc lập Việt Nam

Giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, có lẽ là đề tài bàn luận muôn thuở. Ở VN, người ta bàn về vấn đề giáo dục đại học từ rất lâu, từ mô hình tổ chức đến phương pháp giảng dạy, và giảng viên & giáo sư. Không phải như thời trước 1975 ở miền Nam, đại học là những trung tâm dành cho giới tinh hoa của đất nước, thường chỉ tồn tại ở thành phố lớn.
Thời tôi còn đi học, chỉ có một tỉ lệ nhỏ tốt nghiệp trung học, và chỉ 10%(?) trong số tốt nghiệp trung học vào được đại học. Nói cách khác, đại học ngày đó thu hút học sinh tinh hoa của tinh hoa. Còn ngày nay đại học mọc lên từ làng xã ra thành phố. Ai cũng tốt nghiệp trung học, thì phải tìm nơi cho họ học đại học. Có thể nói VN đang trải qua một phong trào "phổ thông hoá" đại học. Hiện nay, VN có 207 trường đại học được công nhận, và con số này vẫn còn tăng. Công chúng phải phải đặt câu hỏi về vai trò của đại học vì công chúng là người gián tiếp nuôi đại học qua tiền thuế.
Có lẽ câu hỏi cơ bản đặt ra là: giáo dục đại học tồn tại để làm gì? Câu hỏi này cũng là một cách định hình và phân biệt giữa đại học và cao đẳng dạy nghề. Trong một bài viết cách đây 4-5 năm gì đó, tôi có phát biểu rằng trong một xã hội hiện đại, giáo dục bậc đại học có bốn chức năng chính:
(a) đáp ứng nhu cầu tri thức của công chúng và giúp công chúng tự khai thác tiềm năng của mình và cống hiến lại cho xã hội;
(b) sáng tạo ra tri thức mới qua nghiên cứu khoa học, và chuyển giao những tri thức này đến xã hội;
(c) cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, cần thiết cho sự phát triển của một nền kinh tế hiện đại; và
(d) vận hành như là một trung tâm văn hoá, với chức năng khai hóa xã hội, hướng dẫn dư luận, cố vấn về đường lối và chính sách cho nhà nước.
Nếu nhìn chức năng của đại học theo cái nhìn đó và đối chiếu với thực tế, tôi nghĩ đại học VN thất bại gần hết. Tôi sẽ giải thích tại sao, còn nguyên nhân thì sẽ bàn trong một dịp khác.
Đại học VN hiện nay vẫn tồn tại như là một ốc đảo, thiếu sự tương tác với công chúng, xã hội, và kĩ nghệ. Ai đã từng ghé thăm và làm việc các đại học VN, dù là đại học “hoành tráng” nhất, sẽ thấy rất rõ đó là những công sở, với cổng kính tường cao, và giờ mở cửa y như một cơ quan hành chính của Nhà nước. Thư viện thì hầu như chẳng có sách để đọc và tham khảo, mà hình như nhà trường cũng chẳng quan tâm đến thư viện (do thiếu ngân sách). Người dân rất khó tiếp cận đại học, và không có hi vọng gì để được vào đọc sách trong thư viện. Ngược lại, các đại học phương Tây là những thiết chế của cộng đồng, của người dân, ai cũng có thể ghé qua và có thể tham gia những hội thảo dành cho công chúng. Người dân cảm thấy tự hào đó là một cơ sở khoa học và văn hoá của cộng đồng mà họ đóng góp tạo dựng nên.
Khả năng sáng tạo ra tri thức mới của đại học VN cũng không đáng kể. Một thước đo về đóng góp vào tri thức khoa học là số công trình nghiên cứu trên các tập san quốc tế. Trong tổng số bài báo khoa học từ VN trên các tập san quốc tế (hiện nay ~2300 bài), các đại học đóng góp chưa đến 50%. Thật ra, trong số hơn 200 đại học, chỉ có khoảng 20 đại học là có đóng góp vào công bố quốc tế, và cũng chỉ tập trung các trường lớn. Những trường nhỏ và mới như Tôn Đức Thắng, ĐH Quốc tế, ĐH Nha Trang, ĐH Đồng Tháp, v.v. cũng có đóng góp khiêm tốn (mỗi trường đóng góp từ 5-20 bài mỗi năm). Tổng số bài báo khoa học từ tất cả các đại học VN còn thấp hơn 1 đại học của Thái Lan (như Chiang Mai hay Chulalongkorn). Tổng số bài báo khoa học từ VN chưa bằng phân nửa số bài báo của một đại học bên Singapore! Về sáng tạo, các đại học VN cũng chẳng có đăng kí bằng sáng chế quốc tế. Con số là 0. Nói chung, nghiên cứu khoa học và khả năng sáng tạo của các đại học VN chưa đáng kể. Ở đây, chúng ta chưa bàn nguyên nhân, chỉ nêu sự thật.
Những sinh viên mà đại học VN đào tạo khó tìm được việc vì không đáp ứng nhu cầu của giới kĩ nghệ. Ngay cả những người tìm được việc vẫn phải cần đào tạo lại. Một viên chức người Việt thuộc Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) nhận xét: "Hệ thống GD-ĐT [giáo dục và đào tạo] lâu nay của Việt Nam còn bất cập. Tỉ lệ người được đào tạo ra đạt tiêu chuẩn quốc tế là rất ít." Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở trong nước, hàng năm có khoảng 20.000 sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng. Trong số này, chỉ có 50% sinh viên tốt nghiệp kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp; và trong số tìm được việc, chỉ có 30% tìm được việc đúng ngành nghề. Ngay cả những sinh viên đã tìm được việc làm, họ đều phải được huấn luyện lại, nhất là ở các công ti ngoại quốc. Trong nhiều công ti liên doanh với Việt Nam, như Intel chẳng hạn, hầu hết sinh viên Việt Nam đều phải được đào tạo lại cả về chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp. Do đó, đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam.
Nhưng điều này có lẽ không ngạc nhiên, vì đầu vào còn khá thấp. Theo một nghiên cứu về kĩ năng tiếng Việt trong các sinh viên khoa ngữ văn năm 1997-1998 tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trong số 752 sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tư (những cử nhân văn chương tương lai), chỉ có 45% đạt yêu cầu về chính tả và 26% đạt yêu cầu về cú pháp. Do đó, không ngạc nhiên khi đầu ra cũng thấp. Trong một cuộc hội thảo với chủ đề "Toán, lí, hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" trước đây vài năm, một đại biểu của Hội Toán học Việt Nam đánh giá trình độ sinh viên tốt nghiệp trong nước như sau: "Có thể nói không quá đáng rằng, trình độ đại học hiện nay chỉ bằng đại học đại cương (hai năm đầu của đại học nước ngoài), cao học bằng đại học, và phó tiến sĩ chỉ bằng cao học".
Đại học VN khó trở thành một trung tâm văn hoá. Chương trình giảng dạy (nhất là các môn khoa học xã hội và nhân văn) đều chịu dưới sự kiểm soát của một cơ chế vô hình nào đó. Một báo cáo của chuyên gia nước ngoài nhận xét rằng “các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn." Vụ Nhã Thuyên vừa qua là một ví dụ tiêu biểu về bóp chết tự do học thuật. Thiếu tự do học thuật làm cho các đại học VN không thể nào hoàn thành sứ mệnh khai hóa xã hội.
Nói tóm lại các đại học VN đã thất bại trong việc thực hiện những chức năng của một đại học hiện đại. Nếu một đại học mà chỉ đào tạo và không quan tâm hay không hoàn có những hoạt động liên quan đến sáng tạo tri thức mới và đóng vai trò trung tâm văn hoá, thì có lẽ nên xem đó là trường cao đẳng. Mà, quả vậy, có thể nói không ngoa rằng, chiếu theo những tiêu chuẩn học thuật nghiêm túc, phần lớn các đại học VN chỉ là các trường cao đẳng chứ không phải đại học đúng nghĩa.
Sự thất bại này là tiền đề để suy nghĩ về việc sắp xếp lại hệ thống đại học – cao đẳng. Theo tôi, trước hết phải phân tầng các đại học thành 3 nhóm: nhóm elite, nhóm đào tạo, và nhóm địa phương. Nhóm elite gồm những đại học có thể tự chứng minh đạt được 4 chức năng tôi đề cập trên đây, đặc biệt là nghiên cứu koa học. Nhóm đào tạo không cần ưu tiên làm nghiên cứu khoa học mà chỉ tập trung đào tạo chuyên gia có phẩm chất chuyên môn tốt. Tôi nghĩ đến nhóm này như là những “college of advanced education” (CAE) của Úc thời thập niên 1980-1990. Còn nhóm “địa phương” là những đại học do địa phương quản lí, họ cũng đào tạo và ở mức độ khiêm tốn làm nghiên cứu khoa học, nhưng chức năng của họ là phục vụ phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá của địa phương là chính. Dĩ nhiên, không ai ngăn cản một CAE hay đại học địa phương không vươn tầm trở thành một đại học elite, nhưng tạm thời phải có phân tầng chứ không thể theo chủ nghĩa bình quân được.
Tôi nghĩ sự thất bại của đại học VN có nguồn từ sự lẫn lộn giữa đại học và cao đẳng dạy nghề. Đại học là một thiết chế dành cho những “learned people” (tạm xem là học giả), nó không chỉ đơn thuần là nơi đào tạo chuyên gia kĩ thuật, càng không đơn giản là nơi dạy nghề. Nếu chỉ đào tạo chuyên gia thì nên xem đó là viện công nghệ. Đại học theo cái nhìn của tôi không thể có những môn học vốn thuộc sở trường của các cơ sở dạy nghề như “hospitality”, du lịch, nhà bếp, tiếp tân. Một đại học đúng nghĩa theo tôi phải có những môn học mà phương Tây gọi chung là liberal studies như nghệ thuật, ngôn ngữ cổ và kim, văn hoá, văn học, v.v. hay những tri thức phổ quát. Sinh viên y không chỉ học y học mà còn phải học các môn học liberal studies. Nhưng ở VN, người ta lẫn lộn giữa giáo dục đại học, đào tạo chuyên môn, và cao đẳng. Điều này dẫn đến những tranh cãi có khi vô bổ về vai trò của “đại học”, và làm cho nền giáo dục đại học thật sự bị thất bại trong vai trò đáp ứng nhu cầu tri thức và văn hoá của người dân, thất bại trong sáng tạo ra tri thức mới, và thất bại trong việc đóng góp cho nền kinh tế quốc dân.
Powered by Blogger.